Con người có thể tự chữa bệnh bằng niềm tin
Chắc hẳn các
bạn đều biết rằng tinh thần quan trọng như thế nào đối với một người đang có những
tổn thương về thể chất.
Phần lớn
chúng ta sử dụng thuốc và các thủ thuật y khoa để phục hồi sức khỏe, nhưng
không phải lúc nào chúng cũng hiệu quả. Trong một số trường hợp, thứ có thể
giúp chúng ta khỏi bệnh lại chính là niềm tin của chúng ta.
Có cả một
lĩnh vực nghiên cứu, thực nghiệm khoa học dành riêng cho niềm tin này, đó gọi
là giả dược. Có thể hiểu nôm na là thuốc giả, tất nhiên không phải là những loại
thuốc đạo nhái trên thị trường có thể gây hại cho bạn.
Giả dược vốn
là những loại thuốc không có dược tính hoặc những thủ thuật y khoa không thật sự
tác động lên người bệnh, nhưng bằng một cơ chế nào đó lại cải thiện được tình
trạng mà bệnh nhân đang mắc phải.
Và đôi khi,
giả dược chỉ đơn giản là lời nói của bác sĩ. Thứ giúp người bệnh cải thiện được
bệnh tình của họ đôi khi chính là niềm tin.
Vì sao lại
như thế? Giả dược tác động thế nào đến bộ não của chúng ta?
Giả dược xuất
hiện rất sớm từ thế kỷ 18. Trong tiếng Anh, giả dược được gọi là Placebo, bắt
nguồn từ tiếng Latin I shall please, nghĩa là tôi sẽ khỏe.
Những viên
giả dược thường có hình thức, màu sắc và mùi vị giống như một loại thuốc thật,
chỉ có điều trong đó chúng ta không tìm được bất cứ hoạt chất nào.
Thành phần
chủ yếu của giả dược là gulcocanxi, kialusopoliscaris, tinh bột ngô hoặc đường
lên men, đều trung tính hoặc vô hại.
Dù thế, bằng
một cơ chế nào đó, giả dược lại tạo ra hiệu ứng tích cực với người bệnh, có khả
năng cải thiện bệnh tình của họ giống như là thuốc thật. Người ta gọi đó là hiệu
ứng giả dược.
Nghiên cứu
được công bố trên tạp chí Y Khoa Anh vào năm 2008 cho thấy rằng có đến 48% bác
sĩ Đan Mạch tự nhận rằng mình đã chỉ định giả dược cho bệnh nhân ít nhất 10 lần
trong 1 năm.
Một khảo sát
tương tự ở Israel cho thấy có đến 60% bác sĩ đã kê đơn cho các bệnh nhân của
mình, những người nhất quyết đòi phải sử dụng được thuốc thì mới yên tâm trở về
nhà.
Cô giáo sư
Robert Bachman, một chuyên gia về ung thư nổi tiếng người Anh từng nhận định rằng
:
-Giả dược là
loại thuốc đặc biệt có hiệu quả trên hầu hết các triệu chứng. Nó có tác dụng đối
với khoảng 1 phần 3 tổng số bệnh nhân và hiệu quả trị liệu có khi lên đến 60%. Đây
là loại thuốc có ít tác dụng phụ, không sợ quá liều, dễ thích nghi mà lại còn rẻ
tiền.
Trong một
nghiên cứu có tên What's Inplaceable? Who Knows?
Các nhà
nghiên cứu đã xem xét hơn 150 thử nghiệm giả dược từ 4 tạp chí y khoa.
Kết quả cho
thấy những viên giả dược to có tác dụng củng cố niềm tin với người bệnh nhiều
hơn so với các viên nhỏ. 2 viên giả dược thì có tác dụng hơn 1, và viên con nhộng
thì có tác dụng hơn viên nén.
Giả dược dạng
thuốc tiêm thì có tác dụng hơn thuốc viên, vì người ta tin rằng tính xâm nhập của
nó lớn hơn. Các nhà nghiên cứu thậm chí còn phát hiện ra rằng màu sắc của giả
dược cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của chúng.
Chẳng hạn,
những viên giả dược có nhiều màu sắc có khả năng giảm đau tốt hơn các viên màu
trắng.
Viên lang
màu xanh giúp bọn người ngủ ngon hơn viên màu đỏ.
Viên xanh lá
cây là lựa chọn tốt nhất cho bệnh rối loạn lo lâu.
Giả dược màu
nóng như đỏ, vàng, cam thì có tác dụng kích thích mạnh.
Giả dược màu
lạnh như xanh lam và xanh lục thì có tác dụng an thần mạnh.
Hiệu ứng giả
dược cũng được quan sát với nhiều sự khác biệt trong các nền văn hóa khác nhau.
Ví dụ, trong khi điều trị lóet dạ dày, giả dược được cho thấy sự hiệu quả ở Bắc
Âu, đặc biệt là Đức, nhưng lại kém hiệu quả ở Brazil.
Ngược lại,
giả dược điều trị tăng huyết áp thì có tác dụng thấp ở Đức so với nhiều nước
khác.
Vậy, cơ thể
chúng ta đã phản ứng thế nào khi gặp giả dược?
Để trả lời
câu hỏi này, chúng ta phải quay lại thời điểm chiến tranh thế giới thứ 2
khi hiệu ứng
tuyệt vời của giả dược lần đầu tiên được quan sát của Henry Beecher, một bác sĩ
tại đảo Harvard khi ông làm nhiệm vụ quân y trên chiến trường châu Âu. Trong trận
đổ bộ ở bờ biển miền Nam Italy, quân Mỹ bị thương quá nhiều, cần nguồn một cung
Morphin đặc biệt. Morphin là một dạng thuốc giảm đau liều mạnh, thường được sử
dụng để điều trị những cơn đau nặng,
tác động trực
tiếp lên hệ thần kinh trung ương nhằm giảm cảm giác đau đớn cho người bệnh.
Một y tá của
Beacher đã buộc phải nói dối các thương binh rằng cô đang tiêm Morphin cho họ, trong
khi đó chỉ là những ống tiêm chứa nước muối sinh lý.
Điều đáng ngạc
nhiên ở đây, chỉ ngay sau đó, Beacher đã quan sát thấy có tới 40% số thương
binh này cảm thấy được xoa dịu, những cơn đau của họ thực sự giảm xuống. Beacher
đã đi đến một kết luận kinh điển rằng, kỳ vọng có thể ảnh hưởng sâu sắc đến các
biện pháp trị liệu.
Đó là một
trong những điều kiện giả dược hiệu quả.
Sau này, một
giáo sư người Mỹ là Ted Capuch và các nhà nghiên cứu tại Đại học Harvard đã thiết
kế thêm nhiều thử nghiệm khoa học về giả dược.
Kết quả cho
thấy rằng hiệu ứng giả dược có thể giúp cải thiện một loạt chứng bệnh như trầm
cảm, đau mãn tính, giảm đau cấp tính và giảm ho, rối loạn giấc ngủ, rối loạn
cương dương, hội chứng ruột kích thích và mãn kinh, bệnh động kinh và
Parkinson's.
Đặc biệt, giả
dược có thể hoạt động như một loại thuốc giảm đau.
Nghiên cứu tổng
hợp được đăng tải trên tạp chí hiệp hội tăng huyết áp Hoa Kỳ đã đưa ra một phái
kết luận dựa trên các thử nghiệm lâm sàng.
Các bác sĩ
đã đưa cho bệnh nhân tăng huyết áp một loại giả dược với thành phần là bột mì
và bảo với họ rằng đây là thuốc hạ huyết áp. Các bệnh nhân ngay sau khi sử dụng
đã nhận thấy những dấu hiệu ổn định rõ rệt.
Kết quả khẳng
định rằng giả dược có tác dụng đáng kể trên huyết áp tâm thu và tâm trương khi
so sánh với các loại thuốc thật sử dụng để điều trị huyết áp.
Hiệu ứng giả
dược còn có kết quả cao đến nỗi nó hoàn toàn có thể gây ra cảm giác quá liều.
Theo một
nghiên cứu tổng hợp trên tạp chí Front Psychiatry một bệnh nhân uống 29 viên giả
dược không có hoạt chất để tự tử. Anh ấy đã suýt chết với các triệu chứng như hạ
huyết áp, tim đập mạnh, và thở gấp, hệt như các triệu chứng quá liều của thuốc
thật.
Ngoài thuốc,
các thủ thuật giả dược cũng thật sự đánh lừa các bệnh nhân.
Các bác sĩ
đã thực hiện các cuộc phẫu thuật giả cho các bệnh nhân đau lưng và khớp gối. Trước
khi vào phòng mổ, họ yêu cầu bệnh nhân nhịn ăn và thực hiện các xét nghiệm như
bình thường. Sau đó, bệnh nhân được gây mê.
Đến khi tỉnh
lại, họ sẽ được cho xem video phẫu thuật của một bệnh nhân khác.
Và nếu họ
không bị gây mê, các bác sĩ sẽ diễn một vở kịch hoàn hảo, khiến bệnh nhân thật
sự tin vào ca phẫu thuật.
Họ vẫn rạch
da của bệnh nhân, thực hiện các thao tác trình diễn, tạo ra các âm thanh như một
cuộc phẫu thuật thật. Sau đó, họ khâu vết mổ lại như cũ và không thực sự can
thiệp gì.
Nghiên cứu
trên tạp trí y khoa BMG năm 2014 đã cho thấy 3 phần 4 các ca phẫu thuật giả dược
thực sự mang lại lợi ích cho bệnh nhân.
Đó là những
ca phẫu thuật điều trị đau cột sống, trào ngược dạ dày thực quản, Parkinson's,
đau bụng kinh niên. 50% trong số đó giả dược hoạt động tương đương với phẫu thuật
thật.
Trước những
hiệu quả rõ ràng của giả dược như vậy, Ted Capuch đã nhấn mạnh rằng :
-Kỳ vọng là
một hình thức chữa bệnh của tâm trí. Nó giống như là nếu bạn nghĩ bạn khỏi bệnh
thì bạn sẽ mong đợi việc đó, bạn nghĩ mình sẽ khỏi bệnh nếu uống viên thuốc đó,
rồi mọi thứ xảy ra như vậy thật.
Sau xuất hiện
đáng kinh ngạc của Henry Beecher, các nhà khoa học đã mất nhiều năm để tìm kiếm
cơ chế sinh học, đằng sau hiệu ứng giả dược.
Nút thắt chỉ
được gỡ vào năm 1974, sau khi hai nhà khoa học người Mỹ, là Rabbi Simatov và Solomon
Snyder, phát hiện ra edofin, một chất được tiết ra trong tuyển yên của não bộ, có
thể tạo ra hiệu ứng giảm đau và hưng phấn, giống với morphin. Khám phá này dẫn
đến một giả thuyết mới lạ cho hiệu ứng giả dược,
đó là não bộ
có thể tự sản sinh ra thuốc.
Ở đây thuốc
là các chất dẫn truyền thần kinh như edofin, dopamine.
Năm 1978, ba
nhà khoa học đến từ Đại học California là John Levin, Newton Gordon và Howard
Fields đã quyết định điều tra khả năng giảm đau của hiệu ứng giả dựng bởi Edolfin.
Họ thiết kế một ma trận hai thử nghiệm bù đôi liên tiếp trên một nhóm bệnh nhân
mới nhổ răng. Tất cả được chia ngẫu nhiên thành ba nhóm nhỏ.
Nhóm số 1 nhận
được một liều móc phin giảm đau
Nhóm 2 là một
mũi tiêm nước muối vô hại
Và nhóm 3 là
những người được tiêm một loại thuốc đặc biệt có thể làm tăng cơn đau thay vì
giảm
Sau mũi tiêm
đầu, nhóm 1 sử dụng móc phin thật. Và nhóm số 3 được bí mật loại ra khỏi thí
nghiệm. Trong nhóm số 2, những người đáp ứng với giả dược không có cảm giác đau
được lọc ra một nhóm. Còn lại những người không đáp ứng với giả dược nghĩa là họ
vẫn cảm thấy đau sau khi tiêm nước muối, được chọn ra một nhóm khác.
Các nhà khoa
học tiếp tục tiêm thêm một liều Naloxone cho nhóm số 2. Naloxone là hợp chất được
phát triển để ngăn quá liều móc phin nhưng cũng có tác dụng chặn edofin trong não
bộ.
Kết quả là
những người đáp ứng với giả dược lập tức cảm thấy xuất hiện cơn đau răng. Trong
khi đó, nhóm không đáp ứng giả dược, lại không thấy cơn đau của họ tăng thêm.
Điểm đáng
chú ý là mức độ đau trên thang đo dự báo của những người đáp ứng với giả dựa
cao đúng với mức của những người không đáp ứng giả dược.
Nói một cách
dễ hiểu thì nhóm số 2 có những người không hề cảm thấy đau là do não bộ của họ
đã tự tiết ra edolfin để giảm đau. Thế nên khi được tiêm thêm Naloxone làm ức
chế edolfin thì họ lập tức cảm thấy cơn đau trở lại.
Còn những
người từ đầu đã không đáp ứng giả dược thì được ức chế edolfin cũng không có
tác dụng với họ. Vì thế, E-Dolfin được cho là có vai trò rất lớn cho hiệu ứng
giả dược.
Nhóm tác giả
nghiên cứu cũng khẳng định rằng, những dữ liệu thu được từ nghiên cứu cho thấy
kết quả khớp với giả thuyết đặt ra ban đầu.
Đó là sự giải
phóng E-Dolfin chính là trung gian của hiệu ứng giảm đau do giả dược gây ra. Thí
nghiệm này đã cung cấp bằng chứng về mặt hóa học đầu tiên cho hiệu ứng giả dược
và cho thấy giả dược có thể có tác dụng tương đương với một liều từ 6-8mg morphin.
Đồng thời, đây cũng là một trong những thí nghiệm tiên phong vén tấm màn bí ẩn
có hiệu ứng giả dược.
Thế nhưng,
chúng ta vẫn cần một lời giải thích rõ ràng hơn dựa trên khoa học chính thống về
việc hiệu ứng giả dược đã có những ảnh hưởng cụ thể lên não bộ con người như thế
nào.
Câu trả lời
nằm trong nghiên cứu của giáo sư Ted Capuch và các nhà khoa học khác khi nhìn
vào ảnh chụp cộng hưởng từ và chụp cắt lớp của não bộ, giả dược kích hoạt những
vùng não của người sử dụng tương tự thuốc thật.
Tiến bộ
trong phương pháp chụp ảnh y tế đã tiết lộ hiệu ứng giả dược, đã kích thích các
yếu tố sinh hóa và một số con đường thần kinh trong não bộ.
Chẳng hạn, một
nghiên cứu năm 2002 đang trên tạp chí Trends in Neuroscience, cho thấy giả dược
có thể kích hoạt vùng vân trong não bộ bệnh nhân Parkinson's,
khiến lượng
hóc môn dopamine tiết ra tăng 200% tương ứng với một liều 250 levadopa, một loại
thuốc điều trị cho bệnh nhân Parkinson's, và điều này giúp họ giảm triệu chứng
giun và khôi phục lại vận động. Và giả dược đã làm được điều đó.
Như vậy, hiệu
ứng giả dược có thể được giải thích bằng cơ chế sinh hóa trong não bộ, với sự
tham gia của các chất dẫn truyền thần kinh như edolfin và dopamine.
Và điều này
đã được chứng minh bằng nhiều nghiên cứu khoa học cụ thể .
Giả dược thực
sự có tác dụng với một loạt căn bệnh và triệu chứng như đau mãn tính, cơn bốc hỏa,
mệt mỏi, dị ứng, viêm khớp, lo lắng và trầm cảm.
Thế nhưng giả
dược không phải là ma dược, nó sẽ không giúp thu nhỏ khối u lại, nó cũng sẽ
không khiến người mù nhìn thấy.
Nếu bạn bị bại
liệt, giả dược sẽ không giúp bạn đứng dậy và đi lại được. Đây là trích lời Ted
Capuch.
-Giả dược
không chữa đức bệnh tiểu đường và không khiến huyết áp của bạn hạ xuống trong
bóng 15 phút. Giả dược chỉ trở nên hữu ích khi các bác sĩ đã sử dụng đủ hết các
loại thuốc có sẵn và tốt nhất cho bệnh nhân nhưng căn bệnh của họ vẫn không cải
thiện.
Như vậy, giả
dược hiện chỉ nên là thứ vũ khí và công cụ cuối cùng trong kho dự trù của các
bác sĩ. Tuy nhiên, khi các bệnh nhân được kê đơn sử dụng giả dược, hiệu ứng giả
dược mang đến được ví như lời nói dối ngọt ngào, đồng thời cũng bị nhiều người
lên án vì đây chỉ là sự lừa dối trực tiếp đến bệnh nhân.
Để công nhận
giả dược và để giả dược được biết đến một cách trung thực và tích cực hơn. Nghiên
cứu của giáo sư Ted, đăng trên tạp chí PLOS One năm 2010, đã mở ra một hướng
nghiên cứu hoàn toàn mới được gọi là giả dược nhãn mở.
Trong đó, bệnh
nhân được thông báo rằng họ nhận giả dược, chứ không phải là một loại thuốc thực
sự. Đây là sự trung thực tuyệt đối với bệnh nhân.
Nghiên cứu
thử nghiệm lâm sàng nhỏ trên 80 bệnh nhân mắc chứng ruột kích thích. Trong đó,
một nửa sẽ được cho uống giả dược và được thông báo đó chỉ là giả dược, một nửa
còn lại thì không nhận được điều trị.
Kết quả cho
thấy giả dược vẫn có tác dụng.
Hay mới đây,
vào tháng 2 năm 2021, nghiên cứu mở rộng của giả dược nhãn mở trên tạp chí PEN có
các bệnh nhân mắc chứng rối loạn ruột kích thích.
Kết quả cho
thấy là giả dược nhãn mở vẫn có tác dụng với 70% bệnh nhân và 12% bệnh nhân
trong số đó cho thấy có tác dụng vượt trội trong việc giảm nhẹ triệu chứng ruột
kích thích.
Đây thực sự
là một kết quả khá quan, vượt qua bản chất lừa dối ban đầu của giả dược mà tập
trung vào những hiệu ứng mà nó có thể mang lại.
Tóm lại, hiệu
ứng giả dược được lý giải trên góc độ khoa học chính thống là do não giải phóng
những chất dẫn truyền thần kinh như edolfin và dopamine.
Tuy nhiên,
làm sao não bộ chúng ta lại có thể phản ứng với niềm tin theo một cách kỳ diệu
như thế?
Những gì chúng ta biết về bản thân mình vẫn còn quá ít so với những điều phi thường nó có thể tạo nên.




COMMENTS